Một vài nét về tỉnh Battambang |
|
I. Khái quát về tỉnh Battambang: Battambang, phiên âm tiếng Việt: Bát-tam-bang hay Bát-đom-boong, là một tỉnh ở Tây bắc của Campuchia, cách thủ đô Phnom Penh 291 km. Phía Đông giáp Biển Hồ và tỉnh Pursat; phía Tây giáp tỉnh Pailin và Thái Lan; phía Bắc giáp tỉnh Banteay Meanchey; phía Nam giáp tỉnh Pursat. Tỉnh lỵ là thành phố Battambang. Tên gọi của tỉnh này có nghĩa là "mất gậy", liên quan tới một truyền thuyết về Preah Bat Dambang Kranhoung (Vua gậy Kranhoung). - Battambang, có đường biên giới chung với 03 tỉnh của Thái Lan là: Chantha Buri, Trat và Sre Keo, có cửa khẩu quốc tế Dong – Ban Lem và gần 20 đường tiểu ngạch qua lại với Thái Lan. Các đường tiểu ngạch này chủ yếu để vận chuyển thóc lúa, ngô và các sản phẩm nông nghiệp sang Thái Lan, nhập máy móc và phân bón nông nghiệp vào các tỉnh biên giới. - Tỉnh có diện tích 11.662km2; dân số 988.510 người (186.189 gia đình); lượng mưa năm 2008 là 890ml; có 13 huyện (srok) và 01 Thành phố, 86 xã, 10 phường, 750 (ấp) thôn. - 14 huyện, thị gồm: Lãnh đạo tỉnh Trước đây có 9 Phó Tỉnh trưởng, từ tháng 4/2009, sau khi thực hiện cải cách hành chính, hiện chỉ còn 6 Phó Tỉnh trưởng. Hội đồng Tỉnh:Chủ tịch HĐ Tỉnh ông Uk Vong, (nguyên là Phó Tỉnh trưởng) cùng 18 thành viên (HĐ tỉnh có 19). Công an tỉnh - Trưởng phòng Quản lý người nước ngoài, Trung tá Ouen Sarun PM tỉnh (Hiến binh): Chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Por Vannak, cùng 9 Phó Chỉ huy trưởng. Tỉnh đội : - Tỉnh Đội trưởng, Thiếu tướng Ouk Khnorch, cùng 9 Tỉnh Đội phó. Các Sở ban ngành của Tỉnh II -Tình hình chung về kinh tế xã hội: (1). Nông nghiệp: - Diện tích đất canh tác là 415.200ha, trong đó có 238.000ha diện tích đất trồng lúa; 100.000 ha trồng cây ăn trái và 140.000 ha trồng cây công nghiệp. Năm 2007-2008, triển khai trồng được 243.453 ha thu được 600.000 tấn lúa, tính trung bình đạt được hơn 2,028 tấn/ha. - Đối với các cây trồng khác như: ngô (400.000tấn), sắn (01 triệu tấn) và đậu… trong năm 2008 phát triển hơn mọi năm do có thị trường tiêu thụ là Thái Lan và Việt Nam. - Về chăn nuôi: Cũng được các cấp chính quyền quan tâm và chỉ đạo nên trong năm 2008 đạt hiệu quả cao. (2). Về tài nguyên thiên nhiên: Khu vực bảo tồn có diện tích 333.750ha (gồm Battambang, Pursat, và Koh Kong); khu vực Samlot 60.000ha; khu vực Prey Neap 40.021ha. Ngoài ra còn có khu vực phát triển Biển Hồ 316.240ha (gồm Battambang, Kampong Thom, Seam Reap, Pursat và Kampong Chhnăng). (3). Về tài nguyên nước: Battambang có các nguồn nước thiên nhiên như: (Stoeng = sông) Stoeng Ske, Stoeng Muông, Stoeng Bavel và Stoeng Mongkolborey. Những con sông này có độ dốc lớn, cho nên chảy xiết về mùa mưa và cạn về mùa khô, vì vậy giao thông đường thuỷ bị hạn chế. (4). Về lĩnh vực Công nghiệp và khoáng sản: - Battambang, có 4 nhà máy: Nhà máy đay, Dệt, Điện, Nước. Trong đó nhà máy điện và nhà máy nước chưa đảm bảo được nhu cầu của nhân dân, vì vậy Chính phủ cho phép 3 huyện tiếp giáp với biên giới Thái Lan, mua điện của Công ty FRANSIE của Thái Lan. - Về khoáng sản: Battambang có các mỏ như: Đồng, sắt, kẽm, vàng và than đá. Hiện nay Battambang đang cho phép một số công ty của nước ngoài thăm dò ở một số khu vực như: huyện Muong Roe Sey, Koah Kralo, Rotanak Mondol, Samlot và Phnom Proe. Ngoài ra khu vực Biển Hồ thuộc Battambang có trữ lượng dầu lửa rất lớn. - Về điện: Trước năm 2008, Battambang sử dụng nhà máy chạy bằng dầu, giá thành cao vì vậy từ năm 2008, Battambang đã mua điện của Thái Lan. (5). Về lĩnh vực Thương nghiệp: Trong tỉnh có 548 điểm buôn bán, trong đó có 34 điểm của Sở Thương nghiệp, 46 cây xăng, 01 siêu thị. Có 58 công ty đăng ký kinh doanh với Sở Thương nghiệp; 28 Chi nhánh các Công ty; 01 Chi nhánh Ngân hàng Quốc gia. (6). Về giao thông: + Đường 57 (còn gọi là đường 10) chạy từ Battambang đi Pailin và sang Thái Lan (đang được Trung Quốc đầu tư, đã khởi công tháng 2/2008, thời gian hoàn thành 40 tháng). - Đường Sắt: từ Phnom Penh qua Battambang ra cửa khẩu Poi Pet sang Thái Lan (đoạn qua Battambang và Pur sat dài 274km - một Công ty của Nhật trúng thầu nâng cấp đoạn đường sắt này). - Đường Thuỷ: - Đường hàng không: Có 01 sân bay nội địa (hiện không khai thác), trong tương lai sẽ mở rộng đường băng dài thêm 2km thành 4km - Tỉnh lộ từ Tp Battambang đi huyện Banon dài 25 km và từ Battambang đi huyện Ekphnom dài 8 km. (7). Về Du lịch: Du lịch lịch sử có đền Ba Set, chùa Ek Phnom, đền Banon và đền Stoeng Sang Ker. (8). Về Thông tin văn hoá: Ngoài hệ thống điện thoại cố định, Battambang còn có 8 mạng điện thoại di động, như Mobitel, Mfone, Hello, Beeline, Smart Fone, QB (013-), Star cell và Metfone (của VN liên doanh với Campuchia), phủ sóng toàn bộ 14 huyện thị; có 01 trung tâm khai thác Internet, 01 trung tâm phát thanh do nhà nước quản lý và 4 đài phát thanh tư nhân quản lý. Hiện nay, Công ty Metfone đã lắp đặt hệ thống Internet đến hầu hết 14 huyện thị của Tỉnh. (9). Về giáo dục: Ngoài ra còn có: (10). Về y tế: Ngoài các bệnh viện tuyến huyện, có một bệnh viện tỉnh khoảng 150-200 giường bệnh, một bệnh viên Quân khu V và 3 bệnh viện tư nhân (mỗi bệnh viện khoảng 50 giường bệnh – vì giá dịch vụ ở những bệnh viện này cao, do đó bệnh nhân vào điều trị nhiều, nhưng ngày lưu tại bệnh viện đối với mỗi bênh nhân thường là ít hơn so với những bệnh viện của nhà nước) và một số phòng khám. (11). Về tôn giáo. (12). Về các tổ chức NGO: có 200 tổ chức NGO Campuchia và 32 tổ chức NGO quốc tế. Tỉnh có 7 đảng chính trị tham gia bầu cử xã, phường tháng 5 năm 2007. Quốc hội khoá III cả tỉnh có 8 ghế thì CPP có 5/8; Quốc hội khoá IV, CPP có 6/8 ghế, còn lại là các đảng khác. Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2009-2014 cả tỉnh có 19 thành viên thì CPP có 15 thành viên. 1. Hội người Việt Nam tại Battambang: - Chủ tịch Hội là ông Nguyễn Đức Chính (tên Khmer NIEP SOK HENG); Đt: (855) 12651495; (855) 979856675. - Cộng đồng người Việt Nam tại Battambang, có chùa Phước Long Tự, do bà con phật tử người Việt Nam xây dựng vào khoảng năm 1951-1952, được Quốc vương N. Sihanouk ủng hộ, là nơi thờ tự duy nhất của phật tử người Việt tại Battambang (đây có thể được xem là nơi thờ tự lâu năm và duy nhất còn lại của người Việt Nam tại khu vực). Thời kỳ Lon Nol (1970-1975), chính quyền sở tại dùng Chùa làm trại tập trung những người Việt Nam ở khu vực. Thời kỳ Pol pot (1975-1979), chùa Phước Long Tự, cũng như nhiều ngôi chùa khác ở Campuchia bị tàn phá nặng nề, cộng đồng phật tử ở đây người bị giết, người bị đuổi đi, nên Chùa không có người quản lý, nhiều đồ thờ cúng trong Chùa cũng bị Pol Pot phá. Sau ngày 07 tháng Giêng năm 1979, bà con phật tử người Việt dần dần trở lại làm ăn sinh sống và thờ phật, nhưng lúc này đã có nhiều người dân địa phương đến ở trong Chùa, biến Chùa thành của riêng, khuôn viên của Chùa (6.000m2) cũng bị nhiều người chiếm dụng làm nhà ở. Trước nhu cầu của phật tử, tháng 6/2006, Ban Chấp hành Hội đã thống nhất với bà con kiều bào bán trụ sở cũ (đồng thời là lớp học tiếng Việt của con em) lấy tiền thương lượng và đền bù tiền để chuộc lại Chùa trên khuôn viên khoảng 1.000m2, đã tiến hành tu bổ lại, nhưng do điều kiện khó khăn, nên Chùa còn rất sơ sài… Năm 2006, trước nhu cầu học tiếng Việt của con em, theo đề nghị của TLSQ, Quỹ hỗ trợ, vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài - Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (nay là Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao) đã quyết định hỗ trợ kinh phí để Hội xây dựng lớp học mới. Nhưng do giá đất, cũng như giá vật tư xây dựng tăng quá cao (2007) so với khi xây dựng dự án (2006). Vì vậy với số tiền mà Quỹ hỗ trợ không đủ mua đất, nên BCH Hội đã bàn bạc và quyết định xây dựng lớp học ngay trong khuôn viên của Chùa (công trình có 4 phòng học 2 tầng kiên cố). Với ý tưởng, hiện tại dùng làm lớp học, sau này khi con em đến trường học nhiều hơn…sẽ mua đất xây dựng trường mới rộng hơn và trường học hiện nay làm nơi thờ tự. 2. Những thuận lợi và khó khăn của cộng đồng: 2.1.Thuận lợi: - Cộng đồng người Việt Nam ở Campuchia, phần lớn cần cù lao động. - Hiện nay, chính sách của nước sở tại đối với Cộng đồng người nước ngoài nói chung và Cộng đồng người Việt Nam nói riêng, về nguyên tắc không có sự phân biệt đối xử. Hiện Cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia mà đại diện là Hội Người Việt Nam tại Campuchia được chính quyền công nhận tư cách pháp nhân, được phép tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, phòng chống tội phạm... Khi có sự việc liên quan đến Cộng đồng người Việt Nam, chính quyền Campuchia đã phối hợp với Hội người Việt Nam trong việc xem xét, giải quyết; những đề xuất, kiến nghị hợp pháp, hợp lý của Hội người Việt Nam thường được chính quyền Campuchia đáp ứng. Khi giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng người nước ngoài, Chính quyền Campuchia thường không phân biệt Cộng đồng người Việt Nam với các cộng đồng khác. 2. Khó khăn - Vấn đề “người Việt Nam cư trú tại Campuchia” là một vấn đề nhạy cảm, thường bị các thế lực chính trị thù địch, phản động cực đoan trong và ngoài nước chú ý khai thác, lợi dụng, thổi phồng, bịa đặt vu cáo, kích động nhằm mục đích chống Chính phủ Campuchia, Đảng Nhân dân Campuchia và Việt Nam. Cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề người Việt Nam tại Campuchia luôn tiềm ẩn những yếu tố khách quan, chủ quan dễ bị phân biệt, đả kích, nhất là vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị (như các cuộc bầu cử...). - Điều kiện kinh tế của đa số người Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Hoạt động văn hóa, giáo dục, tôn giáo còn mang nặng tính tự phát, Hội người Việt Nam tỉnh Battambang cũng còn khó khăn, cơ sở vật chất của Hội còn rất thiếu thốn, Hội không có đủ điều kiện tối cần thiết về tài chính, cơ sở vật chất, điều kiện hoạt động phục vụ cộng đồng. Lãnh đạo Hội, dù có là người tâm huyết, cũng nhiều khi không thể bỏ việc nhà, hoặc lấy tiền nhà phục vụ cộng đồng. Bên cạnh đó còn có những người lạc hậu, thường gây mâu thuẫn làm cho tình trạng mất đoàn kết trong cộng đồng vẫn diễn ra…/.
|
| Copyright by © 2005 Vietnam Ministry of Foreign Affairs - Office in HCM City Email: Banbientap@mofahcm.gov.vn |